Viễn Cảnh Về Một Nền Giáo Dục Ưu Việt

25/09/2019

Karl Popper - Viễn cảnh về một nền giáo dục ưu việt

Karl Popper - Viễn cảnh về một nền giáo dục ưu việtKarl Popper - Viễn cảnh về một nền giáo dục ưu việt Karl Popper - Viễn cảnh về một nền giáo dục ưu việtKarl Popper - Viễn cảnh về một nền giáo dục ưu việt


Ý tưởng của Karl Popper - triết gia người Áo -  về một nền giáo dục cho tương lai xuất phát từ những mong muốn thiết thực. Ông đã chứng kiến tình cảnh của các cô cậu học trò trong những trường học theo hướng “công nghiệp” của thế kỉ 20. Và khi đọc qua những chia sẻ của ông, chúng ta cũng thấy phần nào những tâm tư của mình trong đó: tâm tư của những cô bé cậu bé ngày ngày cắp sách tới trường, tâm tư của những cha mẹ bên con những lần dùi mài kinh sử cho những kì thi chuyển cấp, và tâm tư của những thầy cô giáo đang hết mình truyền cảm hứng học tập cho thế hệ tiếp theo. 


Ai trong chúng ta cũng đều có mong muốn được học tập, khám phá những gì hay, những gì tốt đẹp nhất của thế giới. Một trường học ưu việt sẽ là nơi để tạo điều kiện và truyền cảm hứng cho công cuộc khai phá tri thức đó. Và dù mỗi người sẽ có những ý tưởng riêng mình để giúp thay đổi trường học tốt hơn, sẽ luôn có những điểm chung mà ta có thể đồng tình.  

Trong phần này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về ba ý tưởng lớn từ các nghiên cứu về Giáo dục trên thế giới: có ý tưởng đang được áp dụng trong một số trường học, và cũng có những điều mới chỉ đang "ấp ủ". Qua việc soi xét những tư tưởng từ những “bộ óc lớn” của ngành giáo dục, ta có thể phần nào hình dung ra bức tranh toàn cảnh về một hệ thống giáo dục ưu việt, từ đó giúp chúng ta biết nên làm gì để giúp trường học trở nên tốt hơn. 

CÁ THỂ HÓA TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP 

Nền giáo dục tiến bộ - Progressive Education

Vào những năm đầu của thế kỷ 20, trong khi phương pháp giáo dục theo kiểu “công nghiệp” của thuyết Taylor đang phát triển rộng rãi, đã xuất hiện những ý kiến phản đối cách tổ chức trường lớp này. Khẩu hiệu ngày đó là Progressive education - nền giáo dục tiến bộ - bao gồm việc phát huy khả năng giao tiếp xã hội, suy tư về bản thân, vận động và rèn luyện thân thể, và việc chấp nhận đưa ý tưởng của học sinh vào nội dung giảng dạy. Carleton Washburne - một giáo viên tiểu học tại thành phố Chicago, Mỹ đã tìm cách phát huy tài năng của từng học sinh tùy theo cá tính và năng lực. Thành công vang dội đã đưa ông đến dạy học ở một ngôi trường lớn tại San Francisco, trước khi ông thành lập một trường cao đẳng nhằm đào tạo giáo viên để họ đáp ứng yêu cầu của một nền giáo dục tiến bộ.

Ý tưởng có tính cách mạng tạo nên tiếng tăm cho Washburne là việc bãi bỏ cách xếp lớp theo tuổi, và lập ra giáo trình đặc biệt thích hợp với cách tổ chức mới. Lớp học với học sinh nhiều lứa tuổi không phải là điều mới, nhưng Washburne đã đi xa hơn một bước. Ông đã giải quyết được vấn đề cải biên giáo trình cho phù hợp với tốc độ học và hiểu của từng học sinh bằng Giáo trình Winnetka (1922), đặt nền tảng trên ý niệm có tên là Mastery Learning - Cách học cá thể hóa.

Với Washburne, điều quan trọng nhất với một học sinh là phải biết sử dụng ngôn ngữ nhuần nhuyễn, bao gồm cả việc viết đúng chính tả và đọc bài trôi chảy. Điều thứ hai đó là biết làm tính và suy nghĩ về những khái niệm trừu tượng. Ông cũng tin rằng, đứa trẻ nào cũng học toán và ngôn ngữ được, dù tốc độ học nhanh chậm khác nhau, nên ông đã soạn thảo giảng dạy rất phong phú. Các lớp học của Wishburne vì thế được sắp xếp dựa theo mức độ lĩnh hội thay vì độ tuổi, trong đó mỗi đứa trẻ chọn tư liệu để học và làm bài theo tốc độ của riêng mình. Thầy cô đóng vai trò kèm cặp học sinh và hỗ trợ khi chúng cần. 

Mô hình mà Washburne thử nghiệm tại các trường học địa phương thành công đến mức ông trở thành ngôi sao sáng của ngành sư phạm Mỹ trong thập niên hai mươi. Ưu điểm của mô hình này là ở chỗ, thay vì cứ lên lớp và hụt hẫng mãi vì mất căn bản ở lớp dưới (tình trạng thường xảy ra tại các vùng ngoại ô tại Mĩ ở giai đoạn này), các em được học tập trung, liên tục, đúng lúc nào cần, và có căn bản vững vàng để bước tiếp lên nấc thang mới. 

Việc tốc độ học của mỗi người khác nhau - vốn là vấn đề trong mô hình truyền thống - nay được giải quyết ổn thỏa. Hãy lấy môn Toán làm ví dụ, những học sinh đặc biệt giỏi Toán vẫn phát huy được năng khiếu mà không phải lo mình đang “lấn lướt” các bạn kém hơn. Những học sinh yếu hơn, trước kia từng rất tuyệt vọng vì thấy mình “dốt toán” và cảm thấy áp lực vì phải đuổi theo cho kịp các bạn khác trong lớp, giờ có thể an tâm học và làm bài tập theo nhịp độ thích hợp riêng của mình.

Nhưng vì sao mô hình học tập với cách tiếp cận mới của Washburne, tuy đạt thành công đáng kể, lại không trở nên phổ biến hơn? Tại sao tất cả trường học tại Mỹ lại không áp dụng phương pháp này? Sự thật là, sau cơn lốc ngắn ngủi quanh mô hình áp dụng Cách học cá thể hóa, không diễn ra một cuộc cách mạng giáo dục nào ở Mỹ. Hệ thống cổ truyền quá cứng nhắc, đã theo lối cũ nên người ta chỉ hào hứng với cái mới được vài năm rồi thôi.

HỌC TẬP THEO DỰ ÁN THAY VÌ MÔN HỌC

Điều tiếp theo mà Washburne rất quan tâm là không để học sinh bỏ hết thì giờ vào việc ngồi học lý thuyết. Ông phân biệt rõ ràng giữa việc học của cá nhân với sinh hoạt sáng tạo theo nhóm. Theo cách tổ chức lớp học của ông, giờ học buổi sáng được dành cho việc học cá nhân với sách vở của các môn văn và toán. Thầy cô hướng dẫn, trò lớn kém trò nhỏ. Giờ học buổi chiều thì khác hẳn. Học sinh tụ lại theo nhóm, với sự hỗ trợ của thầy cô, cùng thực hiện những dự án với đề tài lịch sử, địa lý, hay dàn dựng những tác phẩm nghệ thuật. Qua đó, trẻ tập cách ứng xử và giao tiếp, luyện tinh thần làm việc nhóm và nhiều điều khác nữa. Chúng còn được khuyến khích tự đề ra những dự án mới để cùng thực hiện.

Học tập theo dự án

Ý tưởng để học sinh được cùng tham gia các dự án, từ đó phát triển các kỹ năng giao tiếp, ứng xử xã hội và quản lý công việc … cũng được sự ủng hộ của các chuyên gia giáo dục tại Đức, là Peter Petersen (1884-1952) và Berthold Otto (1859-1933). Theo đó, dự án là “cái khung trong đó kiến thức chuyên môn qua máy tính và sách vở va chạm với thực tiễn cuộc sống”. Trong dự án, kiến thức được bổ sung bằng những phương pháp học khác và được thử nghiệm lại. Các dự án cũng là cơ hội để học sinh từ các lứa tuổi khác nhau được cùng tham gia học tập. 

HỌC TẬP THEO DỰ ÁN THAY VÌ MÔN HỌC

Một lợi ích nữa của việc học theo dự án, đó là học trò có được sự hiểu biết, hay thấy được sự tương quan giữa các phần kiến thức với nhau. Cho đến nay, chúng ta vẫn thấy bình thường khi trong một ngày, bọn trẻ phải học một tiết toán, sau đó một tiết lịch sử, rồi hai tiết Anh văn và kết thúc bằng một tiết Hóa học. Vậy mối tương quan nào giữa những gì học được sẽ nảy sinh trong trí óc học sinh? Câu trả lời là: chẳng có mối tương quan nào cả! Thay vào đó là một mớ kiến thức được nhồi nhét vào đầu.    

Ngược lại, hãy tưởng tượng một lớp học tham gia một dự án dài ngày về chủ đề “Biến đổi khí hậu”, trong đó hai thầy phụ trách địa lý và vật lý trình bày về mặt khí tượng học, thầy giáo lịch sử nói về các cuộc chiến tranh đã xảy ra vì lý do biến đổi khí hậu ở nước Sudan, rồi cả lớp thảo luận và thu thập luận cứ, ý kiến để tìm ra giải pháp - đồng thời tập tranh luận bằng tiếng Anh. Không chỉ với biến đổi khí hậu, các chủ đề như nền văn hóa cổ đại của Hy Lạp, La Mã đã phát triển ra sao; hay đề tài về sức khỏe và dinh dưỡng rất cần được soi rọi từ nhiều góc độ. Bên cạnh những dự án nặng tính lý thuyết cũng cần một vài dự án để học sinh được trổ tài thủ công, như đóng đồ mộc, lắp ráp máy móc hay trồng trọt trong khuôn viên nhà trường.

NGOÀI NHỮNG GIỜ HỌC - NHU CẦU PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT & TINH THẦN CỦA TRẺ

NGOÀI NHỮNG GIỜ HỌC - NHU CẦU PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT & TINH THẦN CỦA TRẺ

“Hãy để đứa bé nô đùa, tung tăng chạy nhảy - sinh lực chỉ quay về trạng thái bình lặng sau khi đã bão hòa.” - câu thơ trích từ tuyển tập thơ Trai và gái của thi hào Schiller được khắc ở cổng vào nhà thể chất tại các trường học ở Đức. Nhưng thực tế thì, học sinh chỉ được “nô đùa” và “tung tăng chạy nhảy” vào giờ thể dục - nếu có môn này trong chương trình. Giáo sư Richard Precht chia sẻ, khi cậu con trai Oskar của ông đi học về, việc đầu tiên nó làm là nhào lộn cả tiếng đồng hồ trên tấm nệm. Sau một ngày ở trường, nhu cầu vận động tay chân bị kìm hãm lớn đến nỗi nó phải tìm cách “phản ứng lại” ngay lập tức . 

Có một sự thật rằng nhiều trường học ở châu Âu vẫn chịu ảnh hưởng từ các học thuyết thế kỷ 20 - chỉ quan tâm đến khả năng tư duy, mọi thứ khác không đáng kể. Thế nên, để phản ứng lại việc phải ngồi hay đứng quá lâu, học sinh về đến nhà là chạy nhảy, chơi bóng đá, còn thầy cô lo tập chạy bộ, vì có vẻ như việc kết hợp việc học tập và vận động ở trường là không thể. 

NGOÀI NHỮNG GIỜ HỌC - NHU CẦU PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT & TINH THẦN CỦA TRẺ

Giải pháp ở đây có thể kéo dài giờ nghỉ giữa các tiết học và dành một phần thời gian cho Cách học cá thể hóa. Theo đó, học sinh có thể lựa chọn: học thêm môn mình thích, hoặc thỏa mãn nhu cầu vận động trong phòng thể chất, mà không ảnh hưởng tới quá trình học tập của cá nhân và tập thể. Trong những giờ học sau đó, trẻ sẽ tập trung đầu óc và học tốt hơn!

Bên cạnh các yếu tố về thể chất, thì sự phát triển tinh thần của học sinh cũng là một yếu tố mà chúng ta cần đặc biệt chú ý tới. Trong cuộc sống thường nhật, việc học thường là một sự pha trộn giữa nhận thức và cảm xúc. Tuy nhiên, khái niệm giáo dục xuyên suốt hệ thống nhà trường truyền thống của chúng ta là một khái niệm thuộc phạm trù lý tính. Những bối cảnh thuộc phạm trù cảm tính thường bị xem nhẹ và loại bỏ. 

NGOÀI NHỮNG GIỜ HỌC - NHU CẦU PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT & TINH THẦN CỦA TRẺ

Trong khi đó, cuộc sống xã hội và nghề nghiệp tương lai của con em chúng ta lại đòi hỏi yếu tố này: năng lực nhận thức bằng cảm tính! Ta sẽ không thể tìm được hướng đi trong cuộc sống và công việc nếu thiếu đi khả năng đồng cảm. Những thầy cô giáo truyền cảm hứng học tập cho học sinh, những nhà quản trị khích lệ nhân viên trong những lúc khó khăn, hay những chính khách nhiệt tình bày tỏ quan điểm với đám đông cử tri - đó là những con người chúng ta muốn có trong tương lai, và mấu chốt để đạt điều này chính là từ năng lực cảm xúc.

Ước vọng về ngôi trường nơi học sinh có thể đến học không buồn chán, không phải vùi đầu vào sách vở để vượt qua những kì thi, mà để học được điều gì đó ý nghĩa, và chuẩn bị sẵn sàng cho tương lai đa dạng có lẽ còn mới mẻ với nhiều người. Nhưng qua những ý tưởng từ các nhà giáo dục như Washburne, Peterson hay Karl Popper, chúng ta thấy rằng những ý tưởng này thực ra đã có từ rất lâu, và hoàn toàn có thể biến thành sự thật. Điều quan trọng là chúng ta có thể đặt ra cho nền giáo dục một lộ trình cụ thể để đạt được mục tiêu cao cả đó.

Viễn Cảnh Về Một Nền Giáo Dục Ưu Việt

Karl Popper - Viễn cảnh về một nền giáo dục ưu việt

Karl Popper - Viễn cảnh về một nền giáo dục ưu việtKarl Popper - Viễn cảnh về một nền giáo dục ưu việt Karl Popper - Viễn cảnh về một nền giáo dục ưu việtKarl Popper - Viễn cảnh về một nền giáo dục ưu việt


Ý tưởng của Karl Popper - triết gia người Áo -  về một nền giáo dục cho tương lai xuất phát từ những mong muốn thiết thực. Ông đã chứng kiến tình cảnh của các cô cậu học trò trong những trường học theo hướng “công nghiệp” của thế kỉ 20. Và khi đọc qua những chia sẻ của ông, chúng ta cũng thấy phần nào những tâm tư của mình trong đó: tâm tư của những cô bé cậu bé ngày ngày cắp sách tới trường, tâm tư của những cha mẹ bên con những lần dùi mài kinh sử cho những kì thi chuyển cấp, và tâm tư của những thầy cô giáo đang hết mình truyền cảm hứng học tập cho thế hệ tiếp theo. 


Ai trong chúng ta cũng đều có mong muốn được học tập, khám phá những gì hay, những gì tốt đẹp nhất của thế giới. Một trường học ưu việt sẽ là nơi để tạo điều kiện và truyền cảm hứng cho công cuộc khai phá tri thức đó. Và dù mỗi người sẽ có những ý tưởng riêng mình để giúp thay đổi trường học tốt hơn, sẽ luôn có những điểm chung mà ta có thể đồng tình.  

Trong phần này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về ba ý tưởng lớn từ các nghiên cứu về Giáo dục trên thế giới: có ý tưởng đang được áp dụng trong một số trường học, và cũng có những điều mới chỉ đang "ấp ủ". Qua việc soi xét những tư tưởng từ những “bộ óc lớn” của ngành giáo dục, ta có thể phần nào hình dung ra bức tranh toàn cảnh về một hệ thống giáo dục ưu việt, từ đó giúp chúng ta biết nên làm gì để giúp trường học trở nên tốt hơn. 

CÁ THỂ HÓA TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP 

Nền giáo dục tiến bộ - Progressive Education

Vào những năm đầu của thế kỷ 20, trong khi phương pháp giáo dục theo kiểu “công nghiệp” của thuyết Taylor đang phát triển rộng rãi, đã xuất hiện những ý kiến phản đối cách tổ chức trường lớp này. Khẩu hiệu ngày đó là Progressive education - nền giáo dục tiến bộ - bao gồm việc phát huy khả năng giao tiếp xã hội, suy tư về bản thân, vận động và rèn luyện thân thể, và việc chấp nhận đưa ý tưởng của học sinh vào nội dung giảng dạy. Carleton Washburne - một giáo viên tiểu học tại thành phố Chicago, Mỹ đã tìm cách phát huy tài năng của từng học sinh tùy theo cá tính và năng lực. Thành công vang dội đã đưa ông đến dạy học ở một ngôi trường lớn tại San Francisco, trước khi ông thành lập một trường cao đẳng nhằm đào tạo giáo viên để họ đáp ứng yêu cầu của một nền giáo dục tiến bộ.

Ý tưởng có tính cách mạng tạo nên tiếng tăm cho Washburne là việc bãi bỏ cách xếp lớp theo tuổi, và lập ra giáo trình đặc biệt thích hợp với cách tổ chức mới. Lớp học với học sinh nhiều lứa tuổi không phải là điều mới, nhưng Washburne đã đi xa hơn một bước. Ông đã giải quyết được vấn đề cải biên giáo trình cho phù hợp với tốc độ học và hiểu của từng học sinh bằng Giáo trình Winnetka (1922), đặt nền tảng trên ý niệm có tên là Mastery Learning - Cách học cá thể hóa.

Với Washburne, điều quan trọng nhất với một học sinh là phải biết sử dụng ngôn ngữ nhuần nhuyễn, bao gồm cả việc viết đúng chính tả và đọc bài trôi chảy. Điều thứ hai đó là biết làm tính và suy nghĩ về những khái niệm trừu tượng. Ông cũng tin rằng, đứa trẻ nào cũng học toán và ngôn ngữ được, dù tốc độ học nhanh chậm khác nhau, nên ông đã soạn thảo giảng dạy rất phong phú. Các lớp học của Wishburne vì thế được sắp xếp dựa theo mức độ lĩnh hội thay vì độ tuổi, trong đó mỗi đứa trẻ chọn tư liệu để học và làm bài theo tốc độ của riêng mình. Thầy cô đóng vai trò kèm cặp học sinh và hỗ trợ khi chúng cần. 

Mô hình mà Washburne thử nghiệm tại các trường học địa phương thành công đến mức ông trở thành ngôi sao sáng của ngành sư phạm Mỹ trong thập niên hai mươi. Ưu điểm của mô hình này là ở chỗ, thay vì cứ lên lớp và hụt hẫng mãi vì mất căn bản ở lớp dưới (tình trạng thường xảy ra tại các vùng ngoại ô tại Mĩ ở giai đoạn này), các em được học tập trung, liên tục, đúng lúc nào cần, và có căn bản vững vàng để bước tiếp lên nấc thang mới. 

Việc tốc độ học của mỗi người khác nhau - vốn là vấn đề trong mô hình truyền thống - nay được giải quyết ổn thỏa. Hãy lấy môn Toán làm ví dụ, những học sinh đặc biệt giỏi Toán vẫn phát huy được năng khiếu mà không phải lo mình đang “lấn lướt” các bạn kém hơn. Những học sinh yếu hơn, trước kia từng rất tuyệt vọng vì thấy mình “dốt toán” và cảm thấy áp lực vì phải đuổi theo cho kịp các bạn khác trong lớp, giờ có thể an tâm học và làm bài tập theo nhịp độ thích hợp riêng của mình.

Nhưng vì sao mô hình học tập với cách tiếp cận mới của Washburne, tuy đạt thành công đáng kể, lại không trở nên phổ biến hơn? Tại sao tất cả trường học tại Mỹ lại không áp dụng phương pháp này? Sự thật là, sau cơn lốc ngắn ngủi quanh mô hình áp dụng Cách học cá thể hóa, không diễn ra một cuộc cách mạng giáo dục nào ở Mỹ. Hệ thống cổ truyền quá cứng nhắc, đã theo lối cũ nên người ta chỉ hào hứng với cái mới được vài năm rồi thôi.

HỌC TẬP THEO DỰ ÁN THAY VÌ MÔN HỌC

Điều tiếp theo mà Washburne rất quan tâm là không để học sinh bỏ hết thì giờ vào việc ngồi học lý thuyết. Ông phân biệt rõ ràng giữa việc học của cá nhân với sinh hoạt sáng tạo theo nhóm. Theo cách tổ chức lớp học của ông, giờ học buổi sáng được dành cho việc học cá nhân với sách vở của các môn văn và toán. Thầy cô hướng dẫn, trò lớn kém trò nhỏ. Giờ học buổi chiều thì khác hẳn. Học sinh tụ lại theo nhóm, với sự hỗ trợ của thầy cô, cùng thực hiện những dự án với đề tài lịch sử, địa lý, hay dàn dựng những tác phẩm nghệ thuật. Qua đó, trẻ tập cách ứng xử và giao tiếp, luyện tinh thần làm việc nhóm và nhiều điều khác nữa. Chúng còn được khuyến khích tự đề ra những dự án mới để cùng thực hiện.

Học tập theo dự án

Ý tưởng để học sinh được cùng tham gia các dự án, từ đó phát triển các kỹ năng giao tiếp, ứng xử xã hội và quản lý công việc … cũng được sự ủng hộ của các chuyên gia giáo dục tại Đức, là Peter Petersen (1884-1952) và Berthold Otto (1859-1933). Theo đó, dự án là “cái khung trong đó kiến thức chuyên môn qua máy tính và sách vở va chạm với thực tiễn cuộc sống”. Trong dự án, kiến thức được bổ sung bằng những phương pháp học khác và được thử nghiệm lại. Các dự án cũng là cơ hội để học sinh từ các lứa tuổi khác nhau được cùng tham gia học tập. 

HỌC TẬP THEO DỰ ÁN THAY VÌ MÔN HỌC

Một lợi ích nữa của việc học theo dự án, đó là học trò có được sự hiểu biết, hay thấy được sự tương quan giữa các phần kiến thức với nhau. Cho đến nay, chúng ta vẫn thấy bình thường khi trong một ngày, bọn trẻ phải học một tiết toán, sau đó một tiết lịch sử, rồi hai tiết Anh văn và kết thúc bằng một tiết Hóa học. Vậy mối tương quan nào giữa những gì học được sẽ nảy sinh trong trí óc học sinh? Câu trả lời là: chẳng có mối tương quan nào cả! Thay vào đó là một mớ kiến thức được nhồi nhét vào đầu.    

Ngược lại, hãy tưởng tượng một lớp học tham gia một dự án dài ngày về chủ đề “Biến đổi khí hậu”, trong đó hai thầy phụ trách địa lý và vật lý trình bày về mặt khí tượng học, thầy giáo lịch sử nói về các cuộc chiến tranh đã xảy ra vì lý do biến đổi khí hậu ở nước Sudan, rồi cả lớp thảo luận và thu thập luận cứ, ý kiến để tìm ra giải pháp - đồng thời tập tranh luận bằng tiếng Anh. Không chỉ với biến đổi khí hậu, các chủ đề như nền văn hóa cổ đại của Hy Lạp, La Mã đã phát triển ra sao; hay đề tài về sức khỏe và dinh dưỡng rất cần được soi rọi từ nhiều góc độ. Bên cạnh những dự án nặng tính lý thuyết cũng cần một vài dự án để học sinh được trổ tài thủ công, như đóng đồ mộc, lắp ráp máy móc hay trồng trọt trong khuôn viên nhà trường.

NGOÀI NHỮNG GIỜ HỌC - NHU CẦU PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT & TINH THẦN CỦA TRẺ

NGOÀI NHỮNG GIỜ HỌC - NHU CẦU PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT & TINH THẦN CỦA TRẺ

“Hãy để đứa bé nô đùa, tung tăng chạy nhảy - sinh lực chỉ quay về trạng thái bình lặng sau khi đã bão hòa.” - câu thơ trích từ tuyển tập thơ Trai và gái của thi hào Schiller được khắc ở cổng vào nhà thể chất tại các trường học ở Đức. Nhưng thực tế thì, học sinh chỉ được “nô đùa” và “tung tăng chạy nhảy” vào giờ thể dục - nếu có môn này trong chương trình. Giáo sư Richard Precht chia sẻ, khi cậu con trai Oskar của ông đi học về, việc đầu tiên nó làm là nhào lộn cả tiếng đồng hồ trên tấm nệm. Sau một ngày ở trường, nhu cầu vận động tay chân bị kìm hãm lớn đến nỗi nó phải tìm cách “phản ứng lại” ngay lập tức . 

Có một sự thật rằng nhiều trường học ở châu Âu vẫn chịu ảnh hưởng từ các học thuyết thế kỷ 20 - chỉ quan tâm đến khả năng tư duy, mọi thứ khác không đáng kể. Thế nên, để phản ứng lại việc phải ngồi hay đứng quá lâu, học sinh về đến nhà là chạy nhảy, chơi bóng đá, còn thầy cô lo tập chạy bộ, vì có vẻ như việc kết hợp việc học tập và vận động ở trường là không thể. 

NGOÀI NHỮNG GIỜ HỌC - NHU CẦU PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT & TINH THẦN CỦA TRẺ

Giải pháp ở đây có thể kéo dài giờ nghỉ giữa các tiết học và dành một phần thời gian cho Cách học cá thể hóa. Theo đó, học sinh có thể lựa chọn: học thêm môn mình thích, hoặc thỏa mãn nhu cầu vận động trong phòng thể chất, mà không ảnh hưởng tới quá trình học tập của cá nhân và tập thể. Trong những giờ học sau đó, trẻ sẽ tập trung đầu óc và học tốt hơn!

Bên cạnh các yếu tố về thể chất, thì sự phát triển tinh thần của học sinh cũng là một yếu tố mà chúng ta cần đặc biệt chú ý tới. Trong cuộc sống thường nhật, việc học thường là một sự pha trộn giữa nhận thức và cảm xúc. Tuy nhiên, khái niệm giáo dục xuyên suốt hệ thống nhà trường truyền thống của chúng ta là một khái niệm thuộc phạm trù lý tính. Những bối cảnh thuộc phạm trù cảm tính thường bị xem nhẹ và loại bỏ. 

NGOÀI NHỮNG GIỜ HỌC - NHU CẦU PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT & TINH THẦN CỦA TRẺ

Trong khi đó, cuộc sống xã hội và nghề nghiệp tương lai của con em chúng ta lại đòi hỏi yếu tố này: năng lực nhận thức bằng cảm tính! Ta sẽ không thể tìm được hướng đi trong cuộc sống và công việc nếu thiếu đi khả năng đồng cảm. Những thầy cô giáo truyền cảm hứng học tập cho học sinh, những nhà quản trị khích lệ nhân viên trong những lúc khó khăn, hay những chính khách nhiệt tình bày tỏ quan điểm với đám đông cử tri - đó là những con người chúng ta muốn có trong tương lai, và mấu chốt để đạt điều này chính là từ năng lực cảm xúc.

Ước vọng về ngôi trường nơi học sinh có thể đến học không buồn chán, không phải vùi đầu vào sách vở để vượt qua những kì thi, mà để học được điều gì đó ý nghĩa, và chuẩn bị sẵn sàng cho tương lai đa dạng có lẽ còn mới mẻ với nhiều người. Nhưng qua những ý tưởng từ các nhà giáo dục như Washburne, Peterson hay Karl Popper, chúng ta thấy rằng những ý tưởng này thực ra đã có từ rất lâu, và hoàn toàn có thể biến thành sự thật. Điều quan trọng là chúng ta có thể đặt ra cho nền giáo dục một lộ trình cụ thể để đạt được mục tiêu cao cả đó.