Thế Lưỡng Nan Của Lớp Học Truyền Thống

25/09/2019

Trong phần đầu của series bài viết, chúng ta được tìm hiểu về cách mà bộ não con người hoạt động. Khác với những gì chúng ta vẫn hình dung, bộ não không phải lúc nào cũng muốn dành công sức cho việc suy nghĩ, thay vào đó là những tính toán chi tiết xem lúc nào nên đào sâu suy nghĩ, lúc nào thì dựa vào những kinh nghiệm được tích lũy trong trí nhớ. Nhưng điều đó không làm phủ định một điều rằng, con người luôn tò mò và ham học hỏi, muốn khám phá những tận cùng của thế giới. Thế nhưng, óc tò mò, tinh thần học hỏi có vị trí thế nào trong lớp học truyền thống?

Chúng ta bắt đầu với câu chuyện của Giáo sư Precht và cậu con trai Oskar. Giống như nhiều đứa trẻ khác, Oskar là một đứa trẻ hiếu kỳ. Cậu ham hiểu biết mọi sự trên đời, thích dành thời gian theo dõi những chương trình giải đố như Ai là triệu phú trên truyền hình. Cậu cũng rất thích, và rất chăm chú nghe khi cha cậu kể về những sự kiện đã diễn ra cách đây rất lâu... 

Nhưng Oskar lại không thích đến trường. Ngôi trường cậu học cũng không thuộc loại tệ lắm, ở đó có cô giáo đứng lớp, học trò làm bài tập để nắm chắc các quy tắc văn phạm và kiến thức sơ khởi về thời La Mã cổ đại, rồi làm bài thi để được chấm điểm. Không có gì lạ khi nhà trường kiểu này không làm cho trẻ em hò reo phấn khởi. Nói đúng ra, không ai đòi các em phải hân hoan phấn chấn, mà chỉ cần chúng vâng lời. 


Tại Đức, các nhà giáo dục đã định nghĩa ra hai nhiệm vụ chủ yếu cho hệ thống giáo dục, đó là giúp trẻ em phát huy nhân cáchchuẩn bị cho chúng trước những hành trình rất đa dạng của tương lai. Theo lời nhận định của Precht, thì “có tranh luận cả buổi cũng chưa ngã ngũ là nhà trường từng đáp ứng được yêu cầu này hay chưa”.

Trong cuốn sách của mình, ông cũng chia sẻ: 

“Riêng tôi rất muốn có đứa con hoan hỉ đến một ngôi trường hoàn toàn khác, ở đó việc học là một cuộc phiêu lưu đánh thức óc hiếu kỳ, phát huy các tiềm năng, rèn luyện ý thức về một thế giới vô cùng lý thú ngoài kia.”

Ông thấy rằng những gì mà nhà trường đang làm cho học sinh là chưa đủ.

Câu hỏi được đặt ra là: Vậy nhà trường truyền thống đã làm được những gì? Và những điều đó có còn phù hợp trong thời đại này?

NGUỒN GỐC CỦA NHỮNG TIÊU CHUẨN CÔNG NGHIỆP

NGUỒN GỐC CỦA NHỮNG TIÊU CHUẨN CÔNG NGHIỆP

NGUỒN GỐC CỦA NHỮNG TIÊU CHUẨN CÔNG NGHIỆP

Theo Giáo sư Precht, trong số những nguyên nhân khiến cho nhà trường ngày nay trông giống một loại xưởng đào tạo học sinh, có nhiều điểm còn tồn tại từ khoảng thế kỷ 20, hoặc trước đó. Ông chỉ ra rằng vào thế kỷ 19, người ta đã xếp cho học sinh ngồi chung theo tuổi, nhưng chưa có những quy chế về các bài thi tiêu chuẩn, hay cách xếp điểm theo thang một đến mười. Bản thân nhịp độ bốn mươi lăm phút cho một tiết học cũng mới xuất hiện vào đầu thế kỷ 20, và theo một số giả thuyết thì chịu ảnh hưởng cách chia giờ trong các tu viện. 

Điều tiếp theo có thể khiến chúng ta thấy bất ngờ, nhưng việc giúp từng đứa trẻ học hỏi, hay phát huy tiềm năng của mọi học sinh, chưa hề là tiêu chí mà nhà trường đầu thế kỉ 20 đưa ra. Thay vào đó, mục tiêu là đào tạo ra lực lượng lao động đồng đều, tuân thủ các quy tắc để tham gia vào các dây chuyền sản xuất tại các nhà máy, xí nghiệp. Mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa nền kinh tế đã được coi trọng hơn khả năng thiên bẩm hay sự sáng tạo của từng cá nhân. 


Dòng tư tưởng chủ đạo cho giai đoạn này là thuyết Taylor, gọi theo tên kinh tế gia người Mỹ Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915), được biết đến với những quy tắc về việc chuẩn hóa mọi công đoạn bằng các chuỗi thao tác chính xác. Trong các công xưởng Mỹ được thiết kế theo quy tắc Taylor, người công nhân phải làm theo một vài công đoạn nhất định trong khoảng thời gian được chuẩn hóa. Ngoài ra, còn có một quy trình thường trực nhằm năng suất người thợ và chất lượng sản phẩm. 

Trong cách tổ chức nghiêm khắc và chặt chẽ của công xưởng đó, không có chỗ cho sự sáng tạo, cho những trao đổi, thương lượng, hay “một văn hóa doanh nghiệp” mà chúng ta biết đến ngày nay. Tất cả đều hướng tới mục tiêu tối ưu hóa chất lượng và tốc độ sản xuất. Và học thuyết Taylor đã làm điều này rất tốt, tốt đến mức nó trở thành mô hình thành công vượt bậc trong giai đoạn đầu thế kỉ 20. 

Từ đó tới nay, rất nhiều các nhà khoa học, nhà kinh tế, và tâm lý học đã công khai chỉ ra sự thiếu tính nhân đạo của thuyết Taylor. Dần dần, qua cải tiến và đấu tranh, người lao động đã có tiếng nói trong doanh nghiệp hơn, và có những điều kiện tốt hơn. 

Nhưng ta không nhìn thấy một sự biến đổi tương ứng trong trường học - nơi đào tạo thế hệ người lao động tiếp theo. Những người đứng đầu vẫn nhất định duy trì một cơ cấu tổ chức dựa trên tinh thần của chủ thuyết Taylor. Hậu quả là: mục tiêu nhà trường nhắm tới (chuẩn bị cho chúng trước những hành trình rất đa dạng của tương lai, nơi mỗi cá nhân dần có tiếng nói và làm việc theo năng lực) không khớp với hiện trạng (trường học giảng dạy theo kiểu rập khuôn).

SỰ GÒ BÓ “BÓP NGHẸT” CÁI THIÊN TÀI

SỰ GÒ BÓ “BÓP NGHẸT” CÁI THIÊN TÀI

Cậu nhóc này “suốt đời sẽ không làm nên công trạng gì” - ông thầy tin chắc như thế. Do tính tình ương ngạnh, lại sao nhãng nhiều môn học, cậu không được học tiếp ở trường Trung học của thành phố Munich, bị buộc phải rời trường mà trong tay không có mảnh bằng tốt nghiệp. Lúc đó, không có chứng chỉ tốt nghiệp trung học vẫn được dự thi vào Trường Cao đẳng Bách khoa Thụy Sĩ (nay là Đại học Bách khoa Thụy Sĩ) ở thành phố Zurich. Dù đạt điểm hạng ưu về Toán và Vật lý, cậu vẫn không được nhận vào trường, vì điểm các môn khác quá tệ. 

Đó là hành trình bao gian khó thời đi học của một trong những nhà Vật lý vĩ đại nhất thế kỷ 20 - Albert Einstein. Câu chuyện của Einstein không phải là ví dụ duy nhất cho việc rất nhiều nhân tài xuất chúng đã phải trải qua nhiều năm gian nan trong hệ thống nhà trường. Để kể ra một vài danh nhân quốc tế trong danh sách, ta có nhà sáng chế Thomas Edison, văn hào Franz Kafka hay chính khách Winston Churchill. 

SỰ GÒ BÓ “BÓP NGHẸT” CÁI THIÊN TÀI

Khi nhớ về những ngày tháng còn ngồi trên ghế nhà trường, Einstein chỉ nhớ một điều là “niềm hứng khởi, sự ham thích hiểu biết cần thiết cho việc nghiên cứu” bị dập tắt. Việc Einstein không thể hòa đồng với nhà trường theo nguyên tắc Taylor là điều không làm ta ngạc nhiên. Hãy thử tưởng tượng rằng có người đến nói với Einstein rằng: “Thôi, dẹp ba cái thuyết tương đối đi, bây giờ ta bàn sang lịch sử châu Âu nhé?”

SỰ GÒ BÓ “BÓP NGHẸT” CÁI THIÊN TÀI

Không chỉ học trò, mà cả thầy cô cũng đứng trước nhiều khó khăn, khi họ nhận ra những sở trường và cá tính riêng của từng học sinh nhưng lại không giúp phát huy được vì sự gò bó của cơ chế. Qua quan sát của Precht, điểm duy nhất dùng được coi là kim chỉ nam trong hệ thống nhà trường kiểu “công nghiệp” là đạt được những chỉ tiêu định sẵn trong thời gian nhất định. Sự tự do sáng tạo, hay những nhu cầu cá biệt của từng học sinh phải nhường chỗ cho một chương trình giảng dạy được đồng bộ hóa.

Hậu quả, theo giáo sư Precht, đó là trong hệ thống giáo dục của Đức, việc hành xử rập khuôn theo đa số được đánh giá cao. Những học sinh có nhiều óc sáng tạo và tính khí ngoan cường, dù được một vài thầy cô đánh giá cao, nói chung không thích hợp với hệ thống nhà trường hiện tại. “Sẽ đi về đâu nếu ta cứ cho phép và khuyến khích học sinh sáng tạo, tự ý làm điều tùy thích? Làm sao học hết chương trình, đạt chỉ tiêu của lớp?”, một thầy giáo than phiền. Vậy là tất cả lại tiếp tục duy trì lối dạy học cũ. 


SỬA ĐỔI CHÚT MỘT HAY CẢI TỔ TOÀN DIỆN?

SỬA ĐỔI CHÚT MỘT HAY CẢI TỔ TOÀN DIỆN?

SỬA ĐỔI CHÚT MỘT HAY CẢI TỔ TOÀN DIỆN?

Trước kết quả “chẩn đoán bệnh” này, ai cũng thấy rằng nếu chỉ làm phẫu thuật thẩm mỹ thì không cứu được hệ thống nhà trường. Nhưng khoan đã, chẳng phải nhà trường giờ đây khá hơn nhiều so với những gì được mô tả ở đây, đúng thế không? Chẳng lẽ tác giả không nhìn ra công sức mà nhà trường, thầy cô và hiệu trưởng, các chuyên gia và các nhà chính sách giáo dục đã bỏ ra để nâng cao chất lượng học tập hay sao? Tình hình thực ra đâu đến nỗi nào, phải không? 

Và chúng ta đúng khi đưa ra những lời nghi vấn này. Thầy cô, nhà trường qua các năm học đã đưa vào áp dụng những thay đổi đáng kể để giúp trải nghiệm học tập của học sinh ở trường trở nên có giá trị hơn. Trong các lớp học, bên cạnh những giờ học theo sách vở truyền thống, trẻ có điều kiện phát huy óc sáng tạo qua các dự án với những đề tài đầy hứng thú. Cùng với đó, khả năng ứng xử xã hội của học sinh cũng được chú ý hơn. Những học sinh có năng lực về xử thế được giao vai trò trọng tài để giải quyết mâu thuẫn, và giữ hòa khí cho lớp học … Tất cả những cải tổ trên đều rất hay và rất đúng đắn. Đó cũng là những tín hiệu dự báo cuộc cách mạng sẽ buộc hệ thống nhà trường phải thay đổi trong những năm sắp tới.

Richard David Precht - Sửa đổi một chút hay cải tổ toàn diện?

Richard David Precht - Sửa đổi một chút hay cải tổ toàn diện?Richard David Precht - Sửa đổi một chút hay cải tổ toàn diện? Richard David Precht - Sửa đổi một chút hay cải tổ toàn diện?Richard David Precht - Sửa đổi một chút hay cải tổ toàn diện?

Nhưng theo Giáo sư Precht, đó mới chỉ là những tín hiệu, chứ chưa phải là cuộc cách mạng. Thực tế chỉ ra vẫn có những khó khăn để đưa những dự án sáng tạo tới học sinh mà vẫn đảm bảo tiến độ học tập. Ngoài ra, ngoại trừ một số ít trường được tổ chức quy củ từ trước, đa số các trường đang cố gắng đem các ý tưởng mới (đôi khi cũ nhưng được làm lại) để chắp nối vào hệ thống cũ. Nói cách khác, thay vì xây lại toàn diện thì chúng ta cứ ráp thêm những viên gạch mới vào bờ tường của một tòa nhà rệu rã.  

Vậy “công trình” đại diện cho hệ thống giáo dục cải tiến sẽ trông như thế nào? Chúng có điểm gì tốt hơn so với mô hình truyền thống? Và chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đưa hệ thống mới vào thay thế cho cái cũ? Sẽ có vô vàn những thắc mắc chúng ta chưa thể giải đáp về nền giáo dục mới này. Nhưng có lẽ một bức tranh toàn cảnh sẽ giúp chúng ta, trước hết, là hiểu về nó hơn, rồi sau đó đưa ra những hành động cụ thể để đạt tới mục tiêu chung này.

Thế Lưỡng Nan Của Lớp Học Truyền Thống

Trong phần đầu của series bài viết, chúng ta được tìm hiểu về cách mà bộ não con người hoạt động. Khác với những gì chúng ta vẫn hình dung, bộ não không phải lúc nào cũng muốn dành công sức cho việc suy nghĩ, thay vào đó là những tính toán chi tiết xem lúc nào nên đào sâu suy nghĩ, lúc nào thì dựa vào những kinh nghiệm được tích lũy trong trí nhớ. Nhưng điều đó không làm phủ định một điều rằng, con người luôn tò mò và ham học hỏi, muốn khám phá những tận cùng của thế giới. Thế nhưng, óc tò mò, tinh thần học hỏi có vị trí thế nào trong lớp học truyền thống?

Chúng ta bắt đầu với câu chuyện của Giáo sư Precht và cậu con trai Oskar. Giống như nhiều đứa trẻ khác, Oskar là một đứa trẻ hiếu kỳ. Cậu ham hiểu biết mọi sự trên đời, thích dành thời gian theo dõi những chương trình giải đố như Ai là triệu phú trên truyền hình. Cậu cũng rất thích, và rất chăm chú nghe khi cha cậu kể về những sự kiện đã diễn ra cách đây rất lâu... 

Nhưng Oskar lại không thích đến trường. Ngôi trường cậu học cũng không thuộc loại tệ lắm, ở đó có cô giáo đứng lớp, học trò làm bài tập để nắm chắc các quy tắc văn phạm và kiến thức sơ khởi về thời La Mã cổ đại, rồi làm bài thi để được chấm điểm. Không có gì lạ khi nhà trường kiểu này không làm cho trẻ em hò reo phấn khởi. Nói đúng ra, không ai đòi các em phải hân hoan phấn chấn, mà chỉ cần chúng vâng lời. 


Tại Đức, các nhà giáo dục đã định nghĩa ra hai nhiệm vụ chủ yếu cho hệ thống giáo dục, đó là giúp trẻ em phát huy nhân cáchchuẩn bị cho chúng trước những hành trình rất đa dạng của tương lai. Theo lời nhận định của Precht, thì “có tranh luận cả buổi cũng chưa ngã ngũ là nhà trường từng đáp ứng được yêu cầu này hay chưa”.

Trong cuốn sách của mình, ông cũng chia sẻ: 

“Riêng tôi rất muốn có đứa con hoan hỉ đến một ngôi trường hoàn toàn khác, ở đó việc học là một cuộc phiêu lưu đánh thức óc hiếu kỳ, phát huy các tiềm năng, rèn luyện ý thức về một thế giới vô cùng lý thú ngoài kia.”

Ông thấy rằng những gì mà nhà trường đang làm cho học sinh là chưa đủ.

Câu hỏi được đặt ra là: Vậy nhà trường truyền thống đã làm được những gì? Và những điều đó có còn phù hợp trong thời đại này?

NGUỒN GỐC CỦA NHỮNG TIÊU CHUẨN CÔNG NGHIỆP

NGUỒN GỐC CỦA NHỮNG TIÊU CHUẨN CÔNG NGHIỆP

NGUỒN GỐC CỦA NHỮNG TIÊU CHUẨN CÔNG NGHIỆP

Theo Giáo sư Precht, trong số những nguyên nhân khiến cho nhà trường ngày nay trông giống một loại xưởng đào tạo học sinh, có nhiều điểm còn tồn tại từ khoảng thế kỷ 20, hoặc trước đó. Ông chỉ ra rằng vào thế kỷ 19, người ta đã xếp cho học sinh ngồi chung theo tuổi, nhưng chưa có những quy chế về các bài thi tiêu chuẩn, hay cách xếp điểm theo thang một đến mười. Bản thân nhịp độ bốn mươi lăm phút cho một tiết học cũng mới xuất hiện vào đầu thế kỷ 20, và theo một số giả thuyết thì chịu ảnh hưởng cách chia giờ trong các tu viện. 

Điều tiếp theo có thể khiến chúng ta thấy bất ngờ, nhưng việc giúp từng đứa trẻ học hỏi, hay phát huy tiềm năng của mọi học sinh, chưa hề là tiêu chí mà nhà trường đầu thế kỉ 20 đưa ra. Thay vào đó, mục tiêu là đào tạo ra lực lượng lao động đồng đều, tuân thủ các quy tắc để tham gia vào các dây chuyền sản xuất tại các nhà máy, xí nghiệp. Mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa nền kinh tế đã được coi trọng hơn khả năng thiên bẩm hay sự sáng tạo của từng cá nhân. 


Dòng tư tưởng chủ đạo cho giai đoạn này là thuyết Taylor, gọi theo tên kinh tế gia người Mỹ Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915), được biết đến với những quy tắc về việc chuẩn hóa mọi công đoạn bằng các chuỗi thao tác chính xác. Trong các công xưởng Mỹ được thiết kế theo quy tắc Taylor, người công nhân phải làm theo một vài công đoạn nhất định trong khoảng thời gian được chuẩn hóa. Ngoài ra, còn có một quy trình thường trực nhằm năng suất người thợ và chất lượng sản phẩm. 

Trong cách tổ chức nghiêm khắc và chặt chẽ của công xưởng đó, không có chỗ cho sự sáng tạo, cho những trao đổi, thương lượng, hay “một văn hóa doanh nghiệp” mà chúng ta biết đến ngày nay. Tất cả đều hướng tới mục tiêu tối ưu hóa chất lượng và tốc độ sản xuất. Và học thuyết Taylor đã làm điều này rất tốt, tốt đến mức nó trở thành mô hình thành công vượt bậc trong giai đoạn đầu thế kỉ 20. 

Từ đó tới nay, rất nhiều các nhà khoa học, nhà kinh tế, và tâm lý học đã công khai chỉ ra sự thiếu tính nhân đạo của thuyết Taylor. Dần dần, qua cải tiến và đấu tranh, người lao động đã có tiếng nói trong doanh nghiệp hơn, và có những điều kiện tốt hơn. 

Nhưng ta không nhìn thấy một sự biến đổi tương ứng trong trường học - nơi đào tạo thế hệ người lao động tiếp theo. Những người đứng đầu vẫn nhất định duy trì một cơ cấu tổ chức dựa trên tinh thần của chủ thuyết Taylor. Hậu quả là: mục tiêu nhà trường nhắm tới (chuẩn bị cho chúng trước những hành trình rất đa dạng của tương lai, nơi mỗi cá nhân dần có tiếng nói và làm việc theo năng lực) không khớp với hiện trạng (trường học giảng dạy theo kiểu rập khuôn).

SỰ GÒ BÓ “BÓP NGHẸT” CÁI THIÊN TÀI

SỰ GÒ BÓ “BÓP NGHẸT” CÁI THIÊN TÀI

Cậu nhóc này “suốt đời sẽ không làm nên công trạng gì” - ông thầy tin chắc như thế. Do tính tình ương ngạnh, lại sao nhãng nhiều môn học, cậu không được học tiếp ở trường Trung học của thành phố Munich, bị buộc phải rời trường mà trong tay không có mảnh bằng tốt nghiệp. Lúc đó, không có chứng chỉ tốt nghiệp trung học vẫn được dự thi vào Trường Cao đẳng Bách khoa Thụy Sĩ (nay là Đại học Bách khoa Thụy Sĩ) ở thành phố Zurich. Dù đạt điểm hạng ưu về Toán và Vật lý, cậu vẫn không được nhận vào trường, vì điểm các môn khác quá tệ. 

Đó là hành trình bao gian khó thời đi học của một trong những nhà Vật lý vĩ đại nhất thế kỷ 20 - Albert Einstein. Câu chuyện của Einstein không phải là ví dụ duy nhất cho việc rất nhiều nhân tài xuất chúng đã phải trải qua nhiều năm gian nan trong hệ thống nhà trường. Để kể ra một vài danh nhân quốc tế trong danh sách, ta có nhà sáng chế Thomas Edison, văn hào Franz Kafka hay chính khách Winston Churchill. 

SỰ GÒ BÓ “BÓP NGHẸT” CÁI THIÊN TÀI

Khi nhớ về những ngày tháng còn ngồi trên ghế nhà trường, Einstein chỉ nhớ một điều là “niềm hứng khởi, sự ham thích hiểu biết cần thiết cho việc nghiên cứu” bị dập tắt. Việc Einstein không thể hòa đồng với nhà trường theo nguyên tắc Taylor là điều không làm ta ngạc nhiên. Hãy thử tưởng tượng rằng có người đến nói với Einstein rằng: “Thôi, dẹp ba cái thuyết tương đối đi, bây giờ ta bàn sang lịch sử châu Âu nhé?”

SỰ GÒ BÓ “BÓP NGHẸT” CÁI THIÊN TÀI

Không chỉ học trò, mà cả thầy cô cũng đứng trước nhiều khó khăn, khi họ nhận ra những sở trường và cá tính riêng của từng học sinh nhưng lại không giúp phát huy được vì sự gò bó của cơ chế. Qua quan sát của Precht, điểm duy nhất dùng được coi là kim chỉ nam trong hệ thống nhà trường kiểu “công nghiệp” là đạt được những chỉ tiêu định sẵn trong thời gian nhất định. Sự tự do sáng tạo, hay những nhu cầu cá biệt của từng học sinh phải nhường chỗ cho một chương trình giảng dạy được đồng bộ hóa.

Hậu quả, theo giáo sư Precht, đó là trong hệ thống giáo dục của Đức, việc hành xử rập khuôn theo đa số được đánh giá cao. Những học sinh có nhiều óc sáng tạo và tính khí ngoan cường, dù được một vài thầy cô đánh giá cao, nói chung không thích hợp với hệ thống nhà trường hiện tại. “Sẽ đi về đâu nếu ta cứ cho phép và khuyến khích học sinh sáng tạo, tự ý làm điều tùy thích? Làm sao học hết chương trình, đạt chỉ tiêu của lớp?”, một thầy giáo than phiền. Vậy là tất cả lại tiếp tục duy trì lối dạy học cũ. 


SỬA ĐỔI CHÚT MỘT HAY CẢI TỔ TOÀN DIỆN?

SỬA ĐỔI CHÚT MỘT HAY CẢI TỔ TOÀN DIỆN?

SỬA ĐỔI CHÚT MỘT HAY CẢI TỔ TOÀN DIỆN?

Trước kết quả “chẩn đoán bệnh” này, ai cũng thấy rằng nếu chỉ làm phẫu thuật thẩm mỹ thì không cứu được hệ thống nhà trường. Nhưng khoan đã, chẳng phải nhà trường giờ đây khá hơn nhiều so với những gì được mô tả ở đây, đúng thế không? Chẳng lẽ tác giả không nhìn ra công sức mà nhà trường, thầy cô và hiệu trưởng, các chuyên gia và các nhà chính sách giáo dục đã bỏ ra để nâng cao chất lượng học tập hay sao? Tình hình thực ra đâu đến nỗi nào, phải không? 

Và chúng ta đúng khi đưa ra những lời nghi vấn này. Thầy cô, nhà trường qua các năm học đã đưa vào áp dụng những thay đổi đáng kể để giúp trải nghiệm học tập của học sinh ở trường trở nên có giá trị hơn. Trong các lớp học, bên cạnh những giờ học theo sách vở truyền thống, trẻ có điều kiện phát huy óc sáng tạo qua các dự án với những đề tài đầy hứng thú. Cùng với đó, khả năng ứng xử xã hội của học sinh cũng được chú ý hơn. Những học sinh có năng lực về xử thế được giao vai trò trọng tài để giải quyết mâu thuẫn, và giữ hòa khí cho lớp học … Tất cả những cải tổ trên đều rất hay và rất đúng đắn. Đó cũng là những tín hiệu dự báo cuộc cách mạng sẽ buộc hệ thống nhà trường phải thay đổi trong những năm sắp tới.

Richard David Precht - Sửa đổi một chút hay cải tổ toàn diện?

Richard David Precht - Sửa đổi một chút hay cải tổ toàn diện?Richard David Precht - Sửa đổi một chút hay cải tổ toàn diện? Richard David Precht - Sửa đổi một chút hay cải tổ toàn diện?Richard David Precht - Sửa đổi một chút hay cải tổ toàn diện?

Nhưng theo Giáo sư Precht, đó mới chỉ là những tín hiệu, chứ chưa phải là cuộc cách mạng. Thực tế chỉ ra vẫn có những khó khăn để đưa những dự án sáng tạo tới học sinh mà vẫn đảm bảo tiến độ học tập. Ngoài ra, ngoại trừ một số ít trường được tổ chức quy củ từ trước, đa số các trường đang cố gắng đem các ý tưởng mới (đôi khi cũ nhưng được làm lại) để chắp nối vào hệ thống cũ. Nói cách khác, thay vì xây lại toàn diện thì chúng ta cứ ráp thêm những viên gạch mới vào bờ tường của một tòa nhà rệu rã.  

Vậy “công trình” đại diện cho hệ thống giáo dục cải tiến sẽ trông như thế nào? Chúng có điểm gì tốt hơn so với mô hình truyền thống? Và chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đưa hệ thống mới vào thay thế cho cái cũ? Sẽ có vô vàn những thắc mắc chúng ta chưa thể giải đáp về nền giáo dục mới này. Nhưng có lẽ một bức tranh toàn cảnh sẽ giúp chúng ta, trước hết, là hiểu về nó hơn, rồi sau đó đưa ra những hành động cụ thể để đạt tới mục tiêu chung này.