Não Bộ Và Quá Trình Trau Dồi Kiến Thức

25/09/2019

Vì sao trẻ không thích đến trường?

“Sự tò mò là một phần bản năng của con người, nhưng chúng ta lại không giỏi tư duy; trừ khi có những điều kiện nhận thức phù hợp, chúng ta sẽ tìm cách để không phải nghĩ.” 

Qua việc đào sâu phân tích chủ đề não bộ, chúng tôi mong sẽ giúp thầy cô giáo và ba mẹ thấy được những cách mà học có thể khuyến khích học sinh và con cái mình tư duy, từ đó tối ưu hóa trải nghiệm của các em mỗi lần “động não” thành công.  

BỘ NÃO CÓ ĐƯỢC THIẾT KẾ CHO VIỆC TƯ DUY?

Henry Ford, nhà sáng lập và chủ tịch đầu tiên của hãng xe hơi Ford từng nói rằng, “Tư duy là công việc khó nhất, và có lẽ đó là lý do ít người muốn tham gia vào nó.” Một quan điểm khá tiêu cực, nhưng có lẽ ông nói đúng. Còn theo quan điểm của Giáo sư Tiến sĩ Willingham, tác giả của công trình nghiên cứu Vì sao trẻ em không thích trường học?, con người không thường xuyên suy nghĩ vì bộ não của ta được thiết kế không phải để suy nghĩ, mà để tránh phải suy nghĩ nhiều. Những chức năng chính mà bộ não đảm nhận là quan sát và vận động , và nó làm việc này hiệu quả và chắc chắn hơn là khả năng tư duy. 

Để giúp ta có thể hiểu rõ hơn về lập luận này, hãy cùng xem xét ví dụ sau đây:

Bạn là một giáo viên mới tại trường tiểu học ở địa phương. Sau một tháng thử việc, bạn rất vui vì các thầy cô khác trong trường đã tận tâm giúp đỡ bạn trong công việc. Để cảm ơn sự ủng hộ của những người đồng nghiệp đáng mến, bạn quyết định tổ chức một bữa tiệc nhỏ tại nhà và mời những đồng nghiệp thân thiết nhất. Tuy nhiên. đây là lần đầu tiên bạn tự tổ chức một bữa tiệc như vậy. Vậy bạn sẽ phải bắt đầu thế nào? Bạn là một giáo viên mới tại trường tiểu học ở địa phương. Sau một tháng thử việc, bạn rất vui vì các thầy cô khác trong trường đã tận tâm giúp đỡ bạn trong công việc. Để cảm ơn sự ủng hộ của những người đồng nghiệp đáng mến, bạn quyết định tổ chức một bữa tiệc nhỏ tại nhà và mời những đồng nghiệp thân thiết nhất. Tuy nhiên. đây là lần đầu tiên bạn tự tổ chức một bữa tiệc như vậy. Vậy bạn sẽ phải bắt đầu thế nào?

Câu hỏi này có thể không khó mới một số người. Người có kinh nghiệm sẽ có thể giải quyết vấn đề này trong hai mươi phút. Nhưng cũng có người sẽ mất đến vài tuần. 


Ví dụ nhỏ này giúp ta thấy được về ba tính chất của hành động tư duy.

Tư duy diễn ra chậm

Trước tiên, việc tư duy diễn ra chậm. Từ góc nhìn của người tham dự, chỉ cần một chút quan sát bạn có thể dễ dàng nhận ra có những gì ở bữa tiệc: mâm hoa quả được cắt gọt và bày biện đẹp đẽ, những ly rượu sâm-panh hay một dàn âm thanh sôi động. Nhưng, với người tổ chức thì quá trình để lên ý tưởng cho bữa tiệc không nhanh chóng như vậy. Thậm chí, bạn sẽ cần sự trợ giúp của vài người đồng nghiệp để cùng “động não” (brainstorm) ra những gì sẽ phù hợp cho buổi tiệc. Nói cách khác, hệ thống tư duy của chúng ta không thể đưa ra câu trả lời cho một vấn đề nhanh như đôi mắt có thể nhận diện một khung cảnh. 

Tư duy tốn nhiều công sức

Điều thứ hai, đó là tư duy cần nhiều công sức; và quan trọng hơn cả là sự tập trung. Bạn có thể vừa trả lời điện thoại trong lúc nhìn vào màn hình máy tính, nhưng bạn không thể vừa nghĩ về bữa tiệc trong lúc đang soạn giáo án cho ngày mai.

Tư duy là việc không chắc chắn

Cuối cùng, tư duy là việc không chắc chắn. Hệ thống thị giác đôi khi sẽ nhầm lẫn, nhưng khi nó xảy ra thì hình ảnh được tiếp nhận vẫn sẽ có thể gần giống với vật thật. Ngược lại, giải pháp mà ta đưa ra cho một vấn đề có thể không hề đúng chút nào. Có thể chúng ta dự tính sai về số người sẽ tham dự bữa tiệc, và kết quả là quá thừa/quá thiếu đồ ăn. Đôi khi hệ thống tư duy còn không thể tìm ra giải pháp.

Nếu sự thật là chúng ta đều không giỏi tư duy, vậy làm thế nào để chúng ta làm các công việc và tham gia vào cuộc sống hàng ngày? Câu trả lời chính là khi ta đã làm một điều gì đó thường xuyên, ta sẽ không nghĩ về nó. Thay vào đó, chúng ta sử dụng trí nhớ của mình. 

TRÍ NHỚ HOẠT ĐỘNG RA SAO? 

Chúng ta thường hình dung về trí nhớ như một “kho dữ liệu”. Trí nhớ giúp lưu lại những phương pháp hay các chỉ dẫn mà ta nên làm: đường đi từ cơ quan về nhà, hay xử lý thế nào khi nồi nước sôi bắt đầu trào ra. Với hầu hết các quyết định trong đời sống hàng ngày, chúng ta không dừng lại để cân nhắc chúng ta đang làm gì, chiêm nghiệm về nó, dự đoán những hệ quả có thể xảy ra, v.v… Mỗi khi bạn cảm thấy mình đang làm gì đó “theo tự động”, kể cả khi làm những công việc phức tạp như lái xe từ cơ quan về nhà, thì đó là lúc bạn đang dựa vào trí nhớ để điều khiển hành vi của mình. 

Tất nhiên, bạn có thể ngẫm nghĩ và đưa ra từng quyết định thật cẩn thận. Khi ai đó yêu cầu bạn rằng hãy “nghĩ thoáng lên - think outside the box”, anh ấy muốn bạn đừng đặt mình vào “chế độ tự động”, và đừng làm những điều mà bạn (hoặc người khác) thường làm. Ban đầu ta sẽ thấy mọi thứ mới lạ, nhưng dần những tác vụ nhỏ nhất cũng sẽ làm bạn mệt mỏi.

Như vậy, có hai cách mà não bộ được lập trình để đỡ “tốn công nghĩ”. Trước tiên, những chức năng quan trọng, như thị giác và vận động không cần đến tư duy để hoạt động; chúng ta không cần lập luận để biết trước mắt mình có gì, ta chỉ cần nhìn thôi. Cách thứ hai đó là chúng ta ưu tiên sử dụng trí nhớ để định hướng hành vi của bản thân hơn là tư duy. 

Nhưng sự kỳ diệu của não bộ không chỉ dừng lại ở đó; nó còn có sức mạnh biến đổi để giúp ta không phải nghĩ ngợi nhiều. Nếu bạn lặp đi lặp lại một công việc cần-trí-óc nhiều lần, nó sẽ dần trở thành tự động; bộ não sẽ tự biến đổi để bạn có thể hoàn thành công việc mà không cần quá nhiều công sức nghĩ ngợi. 


Hãy lấy việc lái xe ô tô là một ví dụ. Bạn có lẽ vẫn nhớ lần đầu học lái xe “căng não” thế nào. Quá nhiều tác vụ phải thực hiện: đạp chân ga thế nào cho vừa, gần tới đèn đỏ thì phải phanh thế nào, khi nào phải nhìn vào gương, v.v… Nhưng với sự luyện tập đều đặn, thì quá trình lái xe trở thành tự động, và rồi bạn có thể vừa lái xe vừa nghe radio giao thông. Một công việc ban đầu cần nhiều suy nghĩ, qua thời gian luyện tập, trở nên dễ dàng và ít cần suy nghĩ hơn.   

Vậy nếu con người thực sự kém trong việc tư duy và tìm cách né tránh việc này, thì điều đó nói gì về thái độ của học sinh với trường học? May mắn thay, câu chuyện không dừng ở đây. Mặc dù con người không giỏi, nhưng ta lại thích tư duy. Bản chất tò mò khiến chúng ta luôn muốn tìm kiếm cơ hội để được động não. Nhưng vì tư duy là một việc khó, nên trừ khi có những điều kiện thích hợp để tính tò mò được phát huy, ta sẽ dần không muốn suy nghĩ nữa. 


ÓC TÒ MÒ MONG MANH CỦA CON NGƯỜI 

Con người về bản chất là những sinh vật tò mò. Chúng ta thích giải những câu đố. Chúng ta xem những bộ phim tài liệu thật nhiều thông tin. Chúng ta theo đuổi những ngành nghề - như làm giáo dục - mà cho ta nhiều thử thách về trí tuệ hơn những nghề khác, mặc dù thu nhập có thể thấp hơn. Chúng ta không chỉ sẵn sàng suy nghĩ, mà còn chủ động tìm tới những tình huống cần có tư duy. 

Giải quyết vấn đề mang lại cho ta sự thỏa mãn. Theo Willingham, ở đây, “giải quyết vấn đề” nên được hiểu là bất cứ hoạt động nhận thức nào có thể mang đến kết quả cụ thể. Khi chúng ta giải quyết thành công một vấn đề, não bộ sẽ tiết ra một liều nhỏ dopamine giúp ta cảm thấy thoải mái - một hóa chất tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong 2 hệ thống học tập và thư giãn của não bộ. Sự thỏa mãn đến khi chúng ta giải quyết được vấn đề. Ngược lại, thiếu đi sự nhận biết về tiến độ công việc sẽ khiến ta nhanh chóng thấy nản lòng.  

Nhưng không phải hoạt động trí óc nào cũng hấp dẫn chúng ta, và điều đó đặc biệt rõ ràng ở lứa tuổi học sinh. Nhiều em sẽ thích ngồi giải những câu đố hơn là làm bài tập Toán. Một cuốn truyện tranh thường sẽ hấp dẫn hơn cuốn sách Ngữ văn. Vậy tính chất nào làm nên một hoạt động trí óc sẽ khiến chúng ta yêu thích?

Câu trả lời nhiều học sinh đưa ra có thể khiến ta nghĩ rằng đó là điều hiển nhiên: “Con thích giải đố và truyện tranh vì nó vui hơn, còn Toán và Ngữ Văn thì chán.” Nói cách khác, điều quan trọng là ở nội dung. Nhưng điều đó chưa chắc là luôn luôn đúng. Chúng ta đều từng tham gia những buổi tọa đàm ta không quan tâm tới, để rồi trở nên thích thú với chủ đề đó; nhưng cũng có khi ta cảm thấy chán nản với một môn học mặc dù trước đó rất thích nó. Một nội dung hay có thể khiến ta thích thú với chủ đề, nhưng chưa chắc đã đủ để duy trì sự thích thú đó. 

Vậy nếu nội dung không đủ để giữ sự chú ý của chúng ta, thì làm thế nào não bộ có thể duy trì sự tò mò? Câu trả lời có thể nằm ở độ khó của vấn đề. Ta không muốn giải quyết những vấn đề quá dễ, bởi chúng ta không cảm thấy sự thỏa mãn vì ban đầu ta đã không coi nó như một vấn đề. Nhưng ta cũng không muốn dành quá nhiều thời gian giải quyết một thử thách quá khó.   

Để tóm tắt lại, chúng ta đã biết được rằng: tư duy là một quá trình chậm, tốn công sức không chắc chắn. Nhưng chúng ta thích được tư duy - hay nói chính xác hơn, đó là thích cảm giác khoan khoái sau khi giải quyết thành công một vấn đề. Chúng ta cũng có trí tò mò để thúc đẩy bản thân giải quyết những vấn đề mới, nhưng chỉ khi độ khó là phù hợp. 

Điều này cho thấy sự cá nhân hóa rất rõ ràng về nhu cầu được học tập ở trẻ nhỏ. Trẻ em rất tò mò và ham khám phá, nhưng chúng sẽ có những mối quan tâm khác nhau, với mức độ hiểu biết khác nhau. Và trong môi trường giáo dục truyền thống như ta thường thấy, có lẽ nhu cầu được phát triển theo từng cá nhân này vẫn chưa được đáp ứng.

Não Bộ Và Quá Trình Trau Dồi Kiến Thức

Vì sao trẻ không thích đến trường?

“Sự tò mò là một phần bản năng của con người, nhưng chúng ta lại không giỏi tư duy; trừ khi có những điều kiện nhận thức phù hợp, chúng ta sẽ tìm cách để không phải nghĩ.” 

Qua việc đào sâu phân tích chủ đề não bộ, chúng tôi mong sẽ giúp thầy cô giáo và ba mẹ thấy được những cách mà học có thể khuyến khích học sinh và con cái mình tư duy, từ đó tối ưu hóa trải nghiệm của các em mỗi lần “động não” thành công.  

BỘ NÃO CÓ ĐƯỢC THIẾT KẾ CHO VIỆC TƯ DUY?

Henry Ford, nhà sáng lập và chủ tịch đầu tiên của hãng xe hơi Ford từng nói rằng, “Tư duy là công việc khó nhất, và có lẽ đó là lý do ít người muốn tham gia vào nó.” Một quan điểm khá tiêu cực, nhưng có lẽ ông nói đúng. Còn theo quan điểm của Giáo sư Tiến sĩ Willingham, tác giả của công trình nghiên cứu Vì sao trẻ em không thích trường học?, con người không thường xuyên suy nghĩ vì bộ não của ta được thiết kế không phải để suy nghĩ, mà để tránh phải suy nghĩ nhiều. Những chức năng chính mà bộ não đảm nhận là quan sát và vận động , và nó làm việc này hiệu quả và chắc chắn hơn là khả năng tư duy. 

Để giúp ta có thể hiểu rõ hơn về lập luận này, hãy cùng xem xét ví dụ sau đây:

Bạn là một giáo viên mới tại trường tiểu học ở địa phương. Sau một tháng thử việc, bạn rất vui vì các thầy cô khác trong trường đã tận tâm giúp đỡ bạn trong công việc. Để cảm ơn sự ủng hộ của những người đồng nghiệp đáng mến, bạn quyết định tổ chức một bữa tiệc nhỏ tại nhà và mời những đồng nghiệp thân thiết nhất. Tuy nhiên. đây là lần đầu tiên bạn tự tổ chức một bữa tiệc như vậy. Vậy bạn sẽ phải bắt đầu thế nào? Bạn là một giáo viên mới tại trường tiểu học ở địa phương. Sau một tháng thử việc, bạn rất vui vì các thầy cô khác trong trường đã tận tâm giúp đỡ bạn trong công việc. Để cảm ơn sự ủng hộ của những người đồng nghiệp đáng mến, bạn quyết định tổ chức một bữa tiệc nhỏ tại nhà và mời những đồng nghiệp thân thiết nhất. Tuy nhiên. đây là lần đầu tiên bạn tự tổ chức một bữa tiệc như vậy. Vậy bạn sẽ phải bắt đầu thế nào?

Câu hỏi này có thể không khó mới một số người. Người có kinh nghiệm sẽ có thể giải quyết vấn đề này trong hai mươi phút. Nhưng cũng có người sẽ mất đến vài tuần. 


Ví dụ nhỏ này giúp ta thấy được về ba tính chất của hành động tư duy.

Tư duy diễn ra chậm

Trước tiên, việc tư duy diễn ra chậm. Từ góc nhìn của người tham dự, chỉ cần một chút quan sát bạn có thể dễ dàng nhận ra có những gì ở bữa tiệc: mâm hoa quả được cắt gọt và bày biện đẹp đẽ, những ly rượu sâm-panh hay một dàn âm thanh sôi động. Nhưng, với người tổ chức thì quá trình để lên ý tưởng cho bữa tiệc không nhanh chóng như vậy. Thậm chí, bạn sẽ cần sự trợ giúp của vài người đồng nghiệp để cùng “động não” (brainstorm) ra những gì sẽ phù hợp cho buổi tiệc. Nói cách khác, hệ thống tư duy của chúng ta không thể đưa ra câu trả lời cho một vấn đề nhanh như đôi mắt có thể nhận diện một khung cảnh. 

Tư duy tốn nhiều công sức

Điều thứ hai, đó là tư duy cần nhiều công sức; và quan trọng hơn cả là sự tập trung. Bạn có thể vừa trả lời điện thoại trong lúc nhìn vào màn hình máy tính, nhưng bạn không thể vừa nghĩ về bữa tiệc trong lúc đang soạn giáo án cho ngày mai.

Tư duy là việc không chắc chắn

Cuối cùng, tư duy là việc không chắc chắn. Hệ thống thị giác đôi khi sẽ nhầm lẫn, nhưng khi nó xảy ra thì hình ảnh được tiếp nhận vẫn sẽ có thể gần giống với vật thật. Ngược lại, giải pháp mà ta đưa ra cho một vấn đề có thể không hề đúng chút nào. Có thể chúng ta dự tính sai về số người sẽ tham dự bữa tiệc, và kết quả là quá thừa/quá thiếu đồ ăn. Đôi khi hệ thống tư duy còn không thể tìm ra giải pháp.

Nếu sự thật là chúng ta đều không giỏi tư duy, vậy làm thế nào để chúng ta làm các công việc và tham gia vào cuộc sống hàng ngày? Câu trả lời chính là khi ta đã làm một điều gì đó thường xuyên, ta sẽ không nghĩ về nó. Thay vào đó, chúng ta sử dụng trí nhớ của mình. 

TRÍ NHỚ HOẠT ĐỘNG RA SAO? 

Chúng ta thường hình dung về trí nhớ như một “kho dữ liệu”. Trí nhớ giúp lưu lại những phương pháp hay các chỉ dẫn mà ta nên làm: đường đi từ cơ quan về nhà, hay xử lý thế nào khi nồi nước sôi bắt đầu trào ra. Với hầu hết các quyết định trong đời sống hàng ngày, chúng ta không dừng lại để cân nhắc chúng ta đang làm gì, chiêm nghiệm về nó, dự đoán những hệ quả có thể xảy ra, v.v… Mỗi khi bạn cảm thấy mình đang làm gì đó “theo tự động”, kể cả khi làm những công việc phức tạp như lái xe từ cơ quan về nhà, thì đó là lúc bạn đang dựa vào trí nhớ để điều khiển hành vi của mình. 

Tất nhiên, bạn có thể ngẫm nghĩ và đưa ra từng quyết định thật cẩn thận. Khi ai đó yêu cầu bạn rằng hãy “nghĩ thoáng lên - think outside the box”, anh ấy muốn bạn đừng đặt mình vào “chế độ tự động”, và đừng làm những điều mà bạn (hoặc người khác) thường làm. Ban đầu ta sẽ thấy mọi thứ mới lạ, nhưng dần những tác vụ nhỏ nhất cũng sẽ làm bạn mệt mỏi.

Như vậy, có hai cách mà não bộ được lập trình để đỡ “tốn công nghĩ”. Trước tiên, những chức năng quan trọng, như thị giác và vận động không cần đến tư duy để hoạt động; chúng ta không cần lập luận để biết trước mắt mình có gì, ta chỉ cần nhìn thôi. Cách thứ hai đó là chúng ta ưu tiên sử dụng trí nhớ để định hướng hành vi của bản thân hơn là tư duy. 

Nhưng sự kỳ diệu của não bộ không chỉ dừng lại ở đó; nó còn có sức mạnh biến đổi để giúp ta không phải nghĩ ngợi nhiều. Nếu bạn lặp đi lặp lại một công việc cần-trí-óc nhiều lần, nó sẽ dần trở thành tự động; bộ não sẽ tự biến đổi để bạn có thể hoàn thành công việc mà không cần quá nhiều công sức nghĩ ngợi. 


Hãy lấy việc lái xe ô tô là một ví dụ. Bạn có lẽ vẫn nhớ lần đầu học lái xe “căng não” thế nào. Quá nhiều tác vụ phải thực hiện: đạp chân ga thế nào cho vừa, gần tới đèn đỏ thì phải phanh thế nào, khi nào phải nhìn vào gương, v.v… Nhưng với sự luyện tập đều đặn, thì quá trình lái xe trở thành tự động, và rồi bạn có thể vừa lái xe vừa nghe radio giao thông. Một công việc ban đầu cần nhiều suy nghĩ, qua thời gian luyện tập, trở nên dễ dàng và ít cần suy nghĩ hơn.   

Vậy nếu con người thực sự kém trong việc tư duy và tìm cách né tránh việc này, thì điều đó nói gì về thái độ của học sinh với trường học? May mắn thay, câu chuyện không dừng ở đây. Mặc dù con người không giỏi, nhưng ta lại thích tư duy. Bản chất tò mò khiến chúng ta luôn muốn tìm kiếm cơ hội để được động não. Nhưng vì tư duy là một việc khó, nên trừ khi có những điều kiện thích hợp để tính tò mò được phát huy, ta sẽ dần không muốn suy nghĩ nữa. 


ÓC TÒ MÒ MONG MANH CỦA CON NGƯỜI 

Con người về bản chất là những sinh vật tò mò. Chúng ta thích giải những câu đố. Chúng ta xem những bộ phim tài liệu thật nhiều thông tin. Chúng ta theo đuổi những ngành nghề - như làm giáo dục - mà cho ta nhiều thử thách về trí tuệ hơn những nghề khác, mặc dù thu nhập có thể thấp hơn. Chúng ta không chỉ sẵn sàng suy nghĩ, mà còn chủ động tìm tới những tình huống cần có tư duy. 

Giải quyết vấn đề mang lại cho ta sự thỏa mãn. Theo Willingham, ở đây, “giải quyết vấn đề” nên được hiểu là bất cứ hoạt động nhận thức nào có thể mang đến kết quả cụ thể. Khi chúng ta giải quyết thành công một vấn đề, não bộ sẽ tiết ra một liều nhỏ dopamine giúp ta cảm thấy thoải mái - một hóa chất tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong 2 hệ thống học tập và thư giãn của não bộ. Sự thỏa mãn đến khi chúng ta giải quyết được vấn đề. Ngược lại, thiếu đi sự nhận biết về tiến độ công việc sẽ khiến ta nhanh chóng thấy nản lòng.  

Nhưng không phải hoạt động trí óc nào cũng hấp dẫn chúng ta, và điều đó đặc biệt rõ ràng ở lứa tuổi học sinh. Nhiều em sẽ thích ngồi giải những câu đố hơn là làm bài tập Toán. Một cuốn truyện tranh thường sẽ hấp dẫn hơn cuốn sách Ngữ văn. Vậy tính chất nào làm nên một hoạt động trí óc sẽ khiến chúng ta yêu thích?

Câu trả lời nhiều học sinh đưa ra có thể khiến ta nghĩ rằng đó là điều hiển nhiên: “Con thích giải đố và truyện tranh vì nó vui hơn, còn Toán và Ngữ Văn thì chán.” Nói cách khác, điều quan trọng là ở nội dung. Nhưng điều đó chưa chắc là luôn luôn đúng. Chúng ta đều từng tham gia những buổi tọa đàm ta không quan tâm tới, để rồi trở nên thích thú với chủ đề đó; nhưng cũng có khi ta cảm thấy chán nản với một môn học mặc dù trước đó rất thích nó. Một nội dung hay có thể khiến ta thích thú với chủ đề, nhưng chưa chắc đã đủ để duy trì sự thích thú đó. 

Vậy nếu nội dung không đủ để giữ sự chú ý của chúng ta, thì làm thế nào não bộ có thể duy trì sự tò mò? Câu trả lời có thể nằm ở độ khó của vấn đề. Ta không muốn giải quyết những vấn đề quá dễ, bởi chúng ta không cảm thấy sự thỏa mãn vì ban đầu ta đã không coi nó như một vấn đề. Nhưng ta cũng không muốn dành quá nhiều thời gian giải quyết một thử thách quá khó.   

Để tóm tắt lại, chúng ta đã biết được rằng: tư duy là một quá trình chậm, tốn công sức không chắc chắn. Nhưng chúng ta thích được tư duy - hay nói chính xác hơn, đó là thích cảm giác khoan khoái sau khi giải quyết thành công một vấn đề. Chúng ta cũng có trí tò mò để thúc đẩy bản thân giải quyết những vấn đề mới, nhưng chỉ khi độ khó là phù hợp. 

Điều này cho thấy sự cá nhân hóa rất rõ ràng về nhu cầu được học tập ở trẻ nhỏ. Trẻ em rất tò mò và ham khám phá, nhưng chúng sẽ có những mối quan tâm khác nhau, với mức độ hiểu biết khác nhau. Và trong môi trường giáo dục truyền thống như ta thường thấy, có lẽ nhu cầu được phát triển theo từng cá nhân này vẫn chưa được đáp ứng.